Tài khoản 155 giữ nguyên số hiệu qua Thông tư 99/2025, nhưng đổi tên và mở rộng phạm vi. Đây là loại thay đổi dễ bị bỏ qua nhất khi chuyển chế độ: mã không đổi nên phần mềm không báo gì, mà nội dung ghi vào thì khác.

Trả lời ngắn

Tên ở Thông tư 200 Tài khoản 155 - Thành phẩm
Tên ở Thông tư 99 Tài khoản 155 - Sản phẩm
Phạm vi mở rộng Bao gồm cả bán thành phẩm
Cấp 2 ở Thông tư 200 1551, 1557
Cấp 2 ở Thông tư 99 không có
Thông tư 133 giữ nguyên Thành phẩm
Chuyển số dư không phải chuyển — cùng số hiệu

Đổi tên kéo theo đổi phạm vi

Đây là điểm chính, và nó không chỉ là chuyện chữ nghĩa.

Thông tư 200 định nghĩa hẹp:

"Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của các loại thành phẩm của doanh nghiệp. Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc quá trình chế biến do các bộ phận sản xuất của doanh nghiệp sản xuất hoặc thuê ngoài gia công xong đã được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và nhập kho." — điểm a khoản 1 Điều 28 Thông tư 200/2014/TT-BTC

Thông tư 99 mở rộng:

"Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của các loại sản phẩm của doanh nghiệp. Sản phẩm bao gồm thành phẩm và bán thành phẩm, trong đó thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc quá trình chế biến do các bộ phận sản xuất của doanh nghiệp thực hiện hoặc thuê ngoài gia công xong đã được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và nhập kho; Bán thành phẩm là những sản phẩm chỉ mới hoàn thành được một hoặc một số công đoạn (trừ công đoạn cuối cùng) của quá trình sản xuất." — điểm a khoản 1 phần hướng dẫn Tài khoản 155, Thông tư 99/2025/TT-BTC

Khác biệt nằm ở ba chữ "và bán thành phẩm". Định nghĩa thành phẩm thì giữ gần như nguyên văn; cái được thêm vào là một loại tồn kho mới nằm trong phạm vi tài khoản.

Ai bị ảnh hưởng: doanh nghiệp sản xuất nhiều công đoạn mà nhập kho bán thành phẩm, nhất là khi bán thành phẩm đó được bán ra ngoài hoặc chuyển qua phân xưởng khác qua kho. Doanh nghiệp một công đoạn thì thay đổi này không chạm tới.

Dùng làm gì

Phản ánh tồn kho sản phẩm đã nhập kho — cả loại hoàn thành hết công đoạn và loại mới qua một phần công đoạn.

Không dùng cho: chi phí còn đang dở trên dây chuyền chưa nhập kho (ở TK 154 - Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang), hàng mua về để bán (ở TK 156 - Hàng hóa), hàng đã gửi đi bán chưa xác định là đã bán (ở TK 157 - Hàng gửi đi bán).

Trong giao dịch ủy thác xuất khẩu, tài khoản này chỉ dùng tại bên giao ủy thác, không dùng tại bên nhận ủy thác.

Kết cấu

Nội dung
Bên Nợ Trị giá của sản phẩm nhập kho
Trị giá của sản phẩm thừa khi kiểm kê
Bên Có Trị giá thực tế của sản phẩm xuất kho
Trị giá của sản phẩm thiếu hụt khi kiểm kê
Số dư bên Nợ Trị giá thực tế của sản phẩm tồn kho tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán

Bút toán cơ bản

Nhập kho sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thuê ngoài gia công chế biến:

Nợ TK 155 - Sản phẩm
    Có TK 154 - Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

Xuất kho sản phẩm để bán cho khách hàng, kể cả sản phẩm là thành phẩm bất động sản đã hoàn thành bàn giao:

Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
    Có TK 155 - Sản phẩm

Lưu ý một điểm liên quan: bút toán nhập kho chỉ còn một đường qua TK 154. Thông tư 99 không còn phương pháp kiểm kê định kỳ, nên không có đường qua TK 631 như Thông tư 200.

Mất 1551 và 1557 thì sao

Thông tư 200 có hai tài khoản cấp 2:

TK Tên ở Thông tư 200
1551 Thành phẩm nhập kho
1557 Thành phẩm bất động sản

Thông tư 99 không quy định tài khoản cấp 2 nào cho 155. Nhưng nó không bỏ nội dung — thành phẩm bất động sản vẫn có cả một mục hướng dẫn riêng tại điểm d phần nguyên tắc kế toán, kể cả cách xác định giá gốc.

Và chính phần hướng dẫn Tài khoản 155 nói rõ cách giữ lại chi tiết:

"Doanh nghiệp có thể mở thêm các tài khoản chi tiết sản phẩm (như: thành phẩm, bán thành phẩm, thành phẩm bất động sản,...) phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh và yêu cầu quản lý của đơn vị mình."

Tức là Thông tư vừa bỏ cấp 2 bắt buộc, vừa gợi ý đúng ba tài khoản chi tiết nên mở — và lần này là mở theo loại sản phẩm, không phải theo đã nhập kho hay chưa như 1551.

⚠️ Giữ bộ mã chi tiết này là hợp lệ, nhưng vì nó là phần bổ sung so với Phụ lục II nên thuộc diện phải ban hành Quy chế hạch toán kế toán theo khoản 2 Điều 11.

So ba chế độ

TT 200/2014 TT 133/2016 TT 99/2025
Tên TK 155 Thành phẩm Thành phẩm Sản phẩm
Gồm bán thành phẩm không nêu không nêu có
Cấp 2 1551, 1557 không không
Đường nhập kho 154 hoặc 631 154 chỉ 154

Chuyển số dư

Không có việc gì phải làm. Số hiệu 155 không đổi, nên Điều 29 Thông tư 99 không yêu cầu chuyển số dư cho tài khoản này.

Việc cần làm là rà soát phân loại: nếu doanh nghiệp đang có bán thành phẩm nhập kho mà trước đây treo ở chỗ khác, đây là lúc xem lại nó thuộc 155 hay vẫn thuộc 154 theo đúng định nghĩa mới.

Vì sao đổi

Tên "Thành phẩm" khóa tài khoản vào một trạng thái: đã xong hết công đoạn. Nhưng tồn kho thực tế của nhà máy nhiều công đoạn không chỉ có thành phẩm — có cả bán thành phẩm nằm kho chờ công đoạn sau, và trong nhiều ngành thì bán thành phẩm còn bán được ra ngoài.

Đổi sang "Sản phẩm" và nêu rõ phạm vi gồm hai loại là làm tên khớp với nội dung, thay vì để kế toán tự suy ra bán thành phẩm nhập kho thì ghi vào đâu. Cùng một hướng với các thay đổi tên khác của Thông tư 99 — như 242 từ Chi phí trả trước sang Chi phí chờ phân bổ, hay 112 từ Tiền gửi Ngân hàng sang Tiền gửi không kỳ hạn — đều là sửa tên cho đúng cái mà tài khoản thật sự phản ánh.

Trên phần mềm

Đây là kiểu thay đổi nguy hiểm vì không có tín hiệu: mã 155 vẫn thế, số dư vẫn thế, không có lỗi nào bật ra. Thứ cần kiểm là nhãn và cấu trúc kho: tên tài khoản hiện đúng Sản phẩm, và bộ mã chi tiết phản ánh được loại sản phẩm nếu doanh nghiệp cần tách.

Vietbooks hỗ trợ cả Thông tư 99 và Thông tư 133 nên tên tài khoản hiện theo chế độ của từng công ty — công ty theo Thông tư 133 vẫn thấy Thành phẩm, công ty theo Thông tư 99 thấy Sản phẩm. Với văn phòng dịch vụ kế toán làm nhiều khách ở hai chế độ, nhãn khác nhau giữa các công ty là bình thường, không phải lỗi.

Lưu ý về nguồn

Các trích dẫn lấy trực tiếp từ phần hướng dẫn Tài khoản 155 và Phụ lục II Thông tư 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025, Điều 28 và Phụ lục 1 Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014, và danh mục tài khoản của Thông tư 133/2016/TT-BTC. Với trường hợp cụ thể, nên đối chiếu lại văn bản gốc.

Đọc tiếp