Số hiệu 2413 giữ nguyên nhưng tên đã đổi, và bên cạnh nó có thêm tài khoản 2414. Cụm "sửa chữa lớn", vốn là cách gọi quen thuộc suốt từ Thông tư 200, không còn ở trong tên tài khoản nào của Thông tư 99/2025.

Trả lời ngắn

TT 200/2014 TT 133/2016 TT 99/2025
Các TK cấp 2 của TK 241 3 3 4
2411 Mua sắm TSCĐ Mua sắm TSCĐ Mua sắm TSCĐ
2412 Xây dựng cơ bản Xây dựng cơ bản Xây dựng cơ bản
2413 Sửa chữa lớn TSCĐ Sửa chữa lớn TSCĐ Sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ TSCĐ
2414 không có không có Nâng cấp, cải tạo TSCĐ

Giữ Thông tư 133 hay Thông tư 200 thì không có gì phải đổi. Chỉ doanh nghiệp theo Thông tư 99 mới có 2414.

Thay đổi chính: gọi đúng theo bản chất, không theo độ lớn

Thông tư 200 phân theo mức độ: sửa chữa lớn thì qua 2413, sửa chữa thường xuyên thì vào chi phí luôn. Còn nâng cấp, cải tạo thì không có tài khoản cấp 2 riêng — chi phí này chỉ được nhắc ở bên Nợ của TK 241 chung.

Thông tư 99 phân theo bản chất của khoản chi, thành ba loại có cách xử lý khác nhau hẳn:

"Tài khoản 2413 - Sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ TSCĐ: Phản ánh chi phí sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ TSCĐ và tình hình quyết toán chi phí sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ TSCĐ. Trường hợp sửa chữa thường xuyên TSCĐ thì không hạch toán vào tài khoản này mà hạch toán ngay vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ."

"Tài khoản 2414 - Nâng cấp, cải tạo TSCĐ: Phản ánh chi phí nâng cấp, cải tạo TSCĐ và tình hình quyết toán chi phí nâng cấp, cải tạo TSCĐ." — phần hướng dẫn Tài khoản 241, Thông tư 99/2025/TT-BTC

Loại khoản chi Đi vào đâu Kết quả cuối
Sửa chữa, bảo dưỡng thường xuyên để TSCĐ hoạt động bình thường Thẳng vào chi phí SXKD trong kỳ (TK 623, 627, 641, 642) Hết, không qua 241
Sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ 2413 → TK 242 Phân bổ dần vào chi phí
Nâng cấp, cải tạo làm tăng năng lực hoặc kéo dài thời gian sử dụng 2414 Cộng vào nguyên giá TSCĐ

Điểm đáng chú ý nhất là cột cuối. Hai khoản này cùng đi qua TK 241 trong lúc làm, nhưng ra khỏi 241 ở hai nơi khác nhau: bảo dưỡng định kỳ thành chi phí chờ phân bổ, nâng cấp thành một phần của tài sản. Dồn cả hai vào chung một tài khoản là chỗ dễ lẫn, và Điều 29 (xem phần chuyển số dư bên dưới) cho thấy chính Thông tư 99 cũng thừa nhận phần nâng cấp từng nằm lẫn trong 2413.

Tiêu chí tách nâng cấp ra khỏi sửa chữa nằm ở nguyên tắc kế toán của TK 211:

"Đối với các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu để nâng cấp, cải tạo làm tăng năng lực hoặc kéo dài thời gian sử dụng của TSCĐ (tăng lợi ích kinh tế của TSCĐ) thì được hạch toán tăng nguyên giá TSCĐ." — điểm g phần nguyên tắc kế toán Tài khoản 211, Thông tư 99/2025/TT-BTC

Bút toán

Sửa chữa, bảo dưỡng thường xuyên — ghi thẳng vào chi phí:

Nợ các TK 623, 627, 641, 642       (theo bộ phận sử dụng)
Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)
    Có các TK 111, 112, ...

Sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ — ba bước:

(1) Khi phát sinh chi phí:
Nợ TK 241 - XDCB dở dang (2413)
Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ (1332)   (nếu có)
    Có các TK 111, 112, 152, 331, 334, ...

(2) Khi công việc hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng:
Nợ TK 242 - Chi phí chờ phân bổ
    Có TK 241 - XDCB dở dang (2413)

(3) Định kỳ phân bổ vào chi phí của bộ phận sử dụng:
Nợ các TK 623, 627, 641, 642
    Có TK 242 - Chi phí chờ phân bổ

Nếu thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ thì chi phí ở bước (1) ghi theo tổng giá thanh toán, không tách TK 133.

Nâng cấp, cải tạo:

(1) Khi phát sinh chi phí:
Nợ TK 241 - XDCB dở dang (2414)
Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ (1332)   (nếu có)
    Có các TK 111, 112, 152, 331, 334, ...

(2) Khi hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng:
Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình
    Có TK 241 - XDCB dở dang (2414)

Bước (2) của nâng cấp áp dụng khi công trình đã được quyết toán ngay lúc bàn giao. Nếu nhận bàn giao mà chưa quyết toán thì ghi nhận theo giá tạm tính như với xây dựng cơ bản mới, rồi điều chỉnh khi quyết toán được duyệt.

Phân bổ chi phí bảo dưỡng định kỳ trong bao lâu

Đây là chỗ hai thông tư viết khác nhau, và dễ bị đọc nhầm là một.

Thông tư 200 Thông tư 99
Tài khoản chứa TK 242 - Chi phí trả trước TK 242 - Chi phí chờ phân bổ
Cách nói về chi phí sửa chữa "Chi phí sửa chữa TSCĐ phát sinh một lần có giá trị lớn doanh nghiệp không thực hiện trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, phân bổ tối đa không quá 3 năm" "Chi phí sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ TSCĐ liên quan đến hoạt động kinh doanh trong nhiều kỳ kế toán"
Giới hạn thời gian tối đa 3 năm không còn câu giới hạn; tính theo từng loại chi phí
Gợi ý của thông tư — thời gian phân bổ có thể tính từ khi sửa chữa, bảo dưỡng xong đến lần sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ sau

Thông tư 99 còn nói rõ cho TSCĐ phải bảo dưỡng định kỳ theo yêu cầu kỹ thuật (như tua bin nhà máy điện, động cơ máy bay): doanh nghiệp được trích trước chi phí sửa chữa, bảo dưỡng nếu có nghĩa vụ, hoặc tính vào chi phí chờ phân bổ rồi phân bổ dần. Thông tư 200 cho phép trích trước thông qua dự phòng phải trả.

Hai chỗ này chỉ là cách ghi nhận trên sổ kế toán. Chi phí đó được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp tới đâu là việc của luật thuế, nằm ngoài bài này.

Chuyển số dư khi sang Thông tư 99

Điều 29 Thông tư 99 có đúng một dòng liên quan, trong danh sách các tài khoản phải chuyển đổi số dư:

"Doanh nghiệp căn cứ vào số chi tiết Tài khoản 2413 - Sửa chữa lớn TSCĐ về phần chi phí về nâng cấp, cải tạo TSCĐ còn chưa hoàn thành sang Tài khoản 2414 - Nâng cấp, cải tạo TSCĐ." — khoản 1 Điều 29 Thông tư 99/2025/TT-BTC

Nghĩa là số dư 2413 đang dở dang phải tách đôi:

Phần trong 2413 cũ Chuyển đi đâu
Chi phí nâng cấp, cải tạo chưa hoàn thành sang 2414
Chi phí sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ chưa hoàn thành ở lại 2413

Vì Thông tư 200 không có chỗ riêng cho nâng cấp nên rất có thể cả hai loại đang nằm lẫn trong một dòng 2413 theo từng công trình. Muốn tách đúng phải mở từng công trình, từng hồ sơ xem nội dung công việc là gì. Phần mềm không tự biết một công trình dở dang là sửa chữa hay nâng cấp, nên đây là việc người làm.

Đang trích trước sửa chữa lớn thì sao

Đây là chỗ thứ hai cần rà, và nằm ở Điều 30 - Điều khoản chuyển tiếp, không phải Điều 29:

"Trường hợp doanh nghiệp đang thực hiện trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ nhưng khi Thông tư này có hiệu lực thi hành mà hoạt động sửa chữa lớn TSCĐ chưa được thực hiện thì doanh nghiệp không tiếp tục thực hiện trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ. Khi hoạt động sửa chữa lớn TSCĐ được thực hiện thì doanh nghiệp kết chuyển phần chi phí sửa chữa lớn TSCĐ thực tế phát sinh với số đã trích trước, phần chênh lệch giữa số chi phí sửa chữa lớn đã trích trước với số thực tế phát sinh được phân bổ dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh từng kỳ." — khoản 4 Điều 30 Thông tư 99/2025/TT-BTC

Đọc thành ba việc:

  1. Thông tư 99 có hiệu lực từ 01/01/2026 (khoản 1 Điều 31). Kể từ đó, đợt sửa chữa lớn nào chưa làm thì ngừng trích trước thêm.
  2. Phần đã trích trước từ trước vẫn còn đó để dùng ở bước tiếp theo — điều khoản không yêu cầu xoá nó đi.
  3. Khi việc sửa chữa diễn ra: lấy chi phí thực tế bù trừ với số đã trích trước, và phần chênh lệch được phân bổ dần vào chi phí từng kỳ.

Điều khoản này chỉ nhắc tới trích trước nên ai không trích trước thì không phải làm gì thêm. Còn ai đang có số dư dự phòng cho sửa chữa lớn thì nên lập danh sách từng đợt, vì khi đợt sửa chữa xảy ra là phải xử lý đúng theo hướng này.

Trên phần mềm

Hệ thống tài khoản Thông tư 99 trong Vietbooks có đủ 2413 (Sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ TSCĐ) và 2414 (Nâng cấp, cải tạo TSCĐ). Công ty theo Thông tư 133 hay Thông tư 200 vẫn dùng 2413 với tên Sửa chữa lớn TSCĐ.

Với văn phòng dịch vụ kế toán làm cả ba chế độ, đây là một trường hợp cùng số hiệu 2413 nhưng nội dung không còn là một: ở Thông tư 99 phải hỏi khách "khoản này là bảo dưỡng định kỳ hay nâng cấp" ngay lúc phát sinh, vì hai câu trả lời dẫn tới hai tài khoản và hai kết cục khác nhau.

Lưu ý về nguồn

Các trích dẫn lấy trực tiếp từ phần hướng dẫn Tài khoản 241, 242 và 211 Thông tư 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025, Điều 29, Điều 30, Điều 31 cùng thông tư, Điều 46, Điều 47 Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 và Điều 37 Thông tư 133/2016/TT-BTC. Bài chỉ nói về hạch toán kế toán; với trường hợp cụ thể, nên đối chiếu lại văn bản gốc.

Đọc tiếp